Nghiên Cứu Về Sinh Trắc Vân Tay, Liệu Có Cơ Sở Khoa Học?

Các nghiên cứu về sinh trắc vân tay từ lâu đã được tiến hành bởi các nhà khoa học và các chuyên gia dựa trên những hiểu biết về gen, thai nhi, sinh trắc học vân tay, thần kinh và tâm lý, kết hợp với các phương pháp quan sát, theo dõi, so sánh và tổng hợp.

Lịch Sử Nghiên Cứu Sinh Trắc Vân Tay

Sau đây, chúng ta sẽ cùng điểm qua một số cột mốc chính của những đột phá trong ngành khoa học sinh trắc vân tay trên thế giới, ngành khoa học dựa trên mối liên quan chặt chẽ giữ vân tay và não bộ của con người

1832: Charles Bell – nhà phẫu thuật người Anh khám phá mối liên kết giữa dấu vân tay và não bộ.

1926: Tiến sĩ Harold Cummins đưa ra lý luận cường độ Pattern Intensity (PI) có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người. Ông cũng chứng minh dấu vân tay hình thành đồng thời với sự hoàn thiện cấu trúc não bộ giai đoạn từ 13-21 tuần thai kỳ.

1943: Tiến sĩ Harold Cummins và Tiến sĩ Charles Midlo công bố chính thức Khoa học Dermatoglyphics.

1950: Giáo sư Wilder Penfield – Nhà phẫu thuật thần kinh người Canada – công bố công trình “Biểu đồ mặt cắt của não bộ trong mối quan hệ với các bộ phận của cơ thể”, mô tả mối liên hệ giữa vân tay và cấu trúc não bộ.

1958: Noel Jaquin phát hiện tính cách con người qua so sánh các loại vân tay khác nhau. Ông là người tiên phong trong nghiên cứu và chuẩn đoán vân tay ở thế kỷ 20.

1967: Beryl Hutchinson MBE là người đầu tiên phát hiện ra vân tay học có thể chứng minh đặc trưng tính cách bẩm sinh của mỗi người. Bà là người kế nhiệm điều hành hiệp hội nghiên cứu các loại hình sinh lý (Society for the Study of Physiological Patterns – SSPP) trên 30 năm.

1972: Charlotte Wolff sử dụng các phương pháp thống kê, biểu đồ và các công cụ máy móc để giải thích mối liên hệ giữa bàn tay và ý thức. Qua kết quả thống kê cho thấy mối liên hệ mất thiết giữa mỗi bàn tay với ý thức và tiềm thức của con người, giữa các ngón tay với nhận thức và tư duy. Bà cho biết ngón cái và ngón trỏ có thể cho biết năng lực tự ý thức và ý chí của mỗi người.

1981: Tiến sĩ Roger Wolcott Sperry đoạt giải Nobel cho công trình Split Brain – Chứng minh não chia làm nhiều vùng khác nhau và mỗi vùng đảm trách những chức năng khác nhau.

1983: Tiến sĩ Howard Gardner – Đại học Harvard công bố thuyết Đa Thông Minh – Frames of Mind, chứng minh có 7 loại hình trí thông minh chứ không phải có có một chỉ số IQ (loại hình thứ 8 và 9 sau này mới được công bố).

1985: Tiến sĩ Chen Yi Mou – Đại học Harvard nghiên cứu tổng hợp các lý thuyết Dermatoglyphics – Thuyết Split Brain – Thuyết Đa Thông Minh, mở đường cho ứng dụng khoa học sinh trắc dấu vân tay trong việc xác định tiềm năng và tính cách bẩm sinh của một người.

1986: Tiến sĩ Rita Levi-Montalcini và Tiến sĩ Stanley Cohen đồng nhận giải Nobel cho công trình NGF – EGF (Chỉ số phát triển tế bào thần kinh – Chỉ số phát triển biểu bì), mở đường cho hướng nghiên cứu đo mật độ tế bào não qua mật độ tế bào da.

Trên đây là lịch sử nghiên cứu sinh trắc vân tay qua từng giai đoạn. Không phải là mê tín, bói toán như lời đồn thôi. Sinh trắc vân tay là ngành khoa học đã được rất nhiều nơi trên thế giới ứng dụng và cho kết quả rất tuyệt vời

Vệ sinh công nghiệp

Là đơn vị có thâm niên trong ngành vệ sinh công nghiệp, chúng tôi tích lũy được nhiều kinh nghiệm khi thi công dịch vụ, với nhưng kinh nghiệm đó giúp chúng tôi rút ngắn được thời gian thi công cũng như công đoạn vì vậy giá thành luôn được đảm bảo tốt nhất.

2 thoughts on “Nghiên Cứu Về Sinh Trắc Vân Tay, Liệu Có Cơ Sở Khoa Học?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *